
Cha Yves Le Page sinh ngày 6 tháng 3 năm 1850 tại làng Saint Péver, thuộc Giáo phận Saint Brieuc, vùng Brétagne ở Tây Bắc nước Pháp. Gia đình cha có một trang trại rộng lớn và ngài là anh cả trong một gia đình đạo đức có 15 người con. Sau khi tốt nghiệp chương trình trung học tại Tiểu Chủng viện Giáo phận thì xảy ra cuộc nổi lên của Vương quốc Ý chiếm đất Toà Thánh, thống nhất nước Ý. Cha Le Page đã tình nguyện tham gia đoàn quân sang bảo vệ nước Toà Thánh. Trong thời gian ở Rô-ma, cha Le Page đã gặp một người đồng hương là Đức cha Laouenan, thuộc Hội Thừa sai Paris, đang truyền giáo ở Ấn Độ và một số cha thừa sai. Cuộc gặp gỡ đó đã nảy sinh trong cha lòng ước mong được đi truyền giáo tại Á châu.
Ngày 18 tháng 9 năm 1872, cha xin gia nhập Hội Thừa sai Paris. Trong hai năm học 1873 và 1874, cha lần lượt được chịu các chức nhỏ và chức phó tế. Ngày 22 tháng 5 năm 1875, cha được nhận lãnh chức linh mục và được sai đi truyền giáo tại Địa phận Tây Đàng Ngoài ở Việt Nam, ngay sau đó cha đã lên tầu để đi đến miền truyền giáo của mình.
Khi đến Việt Nam, ngài được giáo dân gọi tên Việt là Cố Loan. Trước tiên ngài được Đức cha gửi về ở với Cố Lương tại Kẻ Vĩnh để học tiếng và làm quen với công việc, sau đó Cố được gửi về dạy học ở Tiểu chủng viện Hoàng Nguyên. Năm 1885, Cố được bổ nhiệm làm chính xứ Hà Nội, nơi mà Đức cha Phước đang xây dựng nhà thờ Chính Toà ngày nay. Lúc này xứ Hà Nội rộng lớn, bao chùm hết cả vùng đất thành phố và ngoại thành. Năm 1891, nhận thấy địa bàn quá rộng lớn và số người xin nhập đạo gia tăng, Cố đã xin Đức cha tách ra khỏi xứ chính hai trung tâm truyền giáo mới, một ở Đông Lao, cách Hà Nội 20km về phía Tây-Nam và hai là Kẻ Noi[1] cách Hà Nội 10km về phía Tây-Bắc. Cố Loan xin Đức cha cho phụ trách xứ Đông Lao, nơi ngài xây nhà thờ, nhà xứ để làm trung tâm truyền giáo cho cả vùng. Các dân xung quanh xin trở lại đạo, bắt đầu từ làng La Phù[2], rồi lan sang các làng bên bờ sông Đáy. Năm 1897, mặc dù bị quấy rối bởi phong trào bài xích đạo, khu vực này vẫn có đến 80 cộng đoàn Ki-tô giáo được chia làm 4 giáo xứ, hai do Cố Loan, hai do Cố Ngũ coi sóc.
Từ Đông Lao, Cố Loan bắt đầu quan tâm đến vùng Thanh Nê – nơi từ năm 1892 có một số người trong các làng xung quanh xin học Đạo. Quan chức địa phương rất ác cảm và gây khó dễ cho những người này dưới mọi hình thức. Mặc dù vậy đến năm 1898 vẫn tiếp tục có những người xin theo Đạo trong bẩy ngôi làng này. Để nâng đỡ đức tin của họ, cuối năm 1899, Cố Loan đã rời Đông Lao cùng với một cha Việt Nam đến ở làng Thanh Nê và xây ở đây một ngôi nhà thờ bằng đá xanh. Bất chấp bị áp lực của các chức sắc trong vùng bắt giáo dân bỏ Đạo, nhờ sự hiện diện của các cha, số giáo dân gia tăng nhanh chóng. Năm 1901, cả vùng Thanh Nê đã có tới 1034 tín hữu.
Năm 1902, Cố Loan chuyển đến ở tại làng Yên Kiện ngay gần trục đường chính, tiện quy tụ mọi người và cũng phù hợp với sức khoẻ của ngài hơn. Mặc dù gặp nhiều khó khăn chống đối của những người thù địch, ngài vẫn xây được ở đây một ngôi nhà thờ và một nhà tranh để ở. Vào tháng 3 năm 1903, một trận bão lớn đã phá đổ hết nên Cố đã phải làm lại từ đầu. Từ Yên Kiện, ngài đã xây dựng được thêm 20 giáo điểm chung quanh để thiết lập các cộng đoàn họ đạo.
Tháng 8 năm 1904, Cố Loan để Yên Kiện lại cho một cha Việt Nam ở Lưu Xá coi sóc, Cố đến Gò Cời (Tân Hội), nơi mà năm 1899 Cố đã mua những quả đồi hoang, ngài đưa những người dự tòng từ các làng tập trung về đó sinh sống và học đạo. Nhờ Cố hướng dẫn, cuộc sống của họ ngày càng tốt, chỉ trong vài năm, từ những đồi hoang nơi đây đã mọc lên những làng mới được phủ những cây ăn quả và mùa màng bội thu, tạo ảnh hưởng đến các làng trong vùng nên họ cũng lần lượt xin trở lại: Làng Mỗ Xá năm 1904, Phù Chính năm 1905, rồi đến làng Đồng Du.
Tiếp đến là làng Thượng Lâm, cửa ngõ để vào vùng đất của người Mường. Cố Loan kể lại: “Ngày 12 tháng 6 năm 1906, lần đầu tiên tôi đến Thượng Lâm, ở đây có 9 gia đình quyết tâm tòng giáo, nhưng gặp phải sự hiềm khích uy hiếp của các thân hào trong làng…” Thượng Lâm là một làng lớn nằm sát núi, cách Gò Cời khoảng chục cây số về phía Nam và giáp tỉnh Hoà Bình ngày nay.
Từ năm 1907, những người dân tộc Mường ở các làng trong vùng núi gần đó đã đến Thượng Lâm xin được theo Đạo. Đến năm 1911 Cố đã rửa tội cho 870 người Mường. Trong vòng 5, 6 năm, Cố đã thiết lập được 20 cộng đoàn ở đồng bằng và 15 cộng đoàn cho người Mường trong miền núi.
Với một dáng vẻ bề ngoài quắc thước uy nghi, Cố Loan lại là một thừa sai có tấm lòng nhân hậu đáng khâm phục với tính kiên nhẫn bền bỉ, lòng nhiệt thành với giáo dân, những khó khăn hay thất bại không làm Cố nản lòng. Ngôi nhà xứ của Cố luôn rộng mở đón tiếp tất cả mọi người. Dù là một người có sức khoẻ, nhưng lắm khi ngài cũng bị kiệt sức vì đời sống thanh đạm, thiếu thốn và khí hậu khắc nghiệt. Năm 1907 Cố phải lên Hà Nội dưỡng bệnh một thời gian để lấy lại sức rồi ngay sau đó lại trở về Thượng Lâm với đoàn chiên.
Vào tháng 3 năm 1919, trong lễ nghi Tuần Thánh, Cố bị ngã ở bàn thờ và bị bong gân. Để giảm đau, Cố đắp lên chân miếng thuốc của người địa phương, thuốc đó quá nóng nên làm bỏng da và sinh lở loét. Vài ngày sau người ta phải đưa Cố xuống Hà Nội để chữa trị, nhưng vết thương đã sinh ra chứng hoại tử, nhiễm trùng đến nỗi không thể chữa được. Ngài qua đời ngày 28 tháng 5 năm 1919 vào ngay đêm trước ngày lễ Lên Trời, sau 44 năm truyền giáo. Ngài được đưa về an táng tại Vườn Thánh Thượng Lâm. Tổng Giáo phận Hà Nội luôn cảm tạ Chúa đã ban cho mình một vị thừa sai lỗi lạc, thánh thiện, nhiệt thành chinh phục người lương dân trở lại, với bao thành công trong việc rao giảng Tin Mừng, thiết lập những xứ đạo để lại những hoa trái cho chúng ta ngày nay.
(Dựa theo hồ sơ các Thừa sai của MEP số 1680)
Lm. Tô-ma A-qui-nô Nguyễn Xuân Thủy
Trích “Nội san Nhà Chung” – Số 22
[1] Cổ Nhuế ngày nay.
[2] Ngày nay là họ La Phù của xứ Đông Lao chứ không phải Xứ La Phù ở Thường Tín.


TIN LIÊN QUAN: