Từ năm 1876, các Đức Giám mục Địa phận Tây Đàng Ngoài rất chú trọng đến việc loan báo Tin Mừng cho anh chị em lương dân vùng miền núi Hòa Bình bằng cách sai các nhà truyền giáo đến định cư với họ. Từ đó, rất nhiều vị thừa sai dấn thân đến với anh chị em ở khu vực này, trong số đó có một vị tông đồ đã dành trọn cả cuộc đời cho người dân xứ Mường. Tên của ngài là Jean-Joseph Marty Bằng. Bài viết dưới đây sẽ cố gắng khắc họa chân dung vị thừa sai này.
1. Thân thế và bước đầu Ơn gọi
Cố Jean-Joseph Marty Bằng sinh ngày 14/11/1879 tại Villebrumier, thuộc Giáo phận Montauban, tỉnh Tarn-et-Garonne, miền nam nước Pháp. Ngay từ thửa nhỏ, Marty đã khao khát dâng mình cho Chúa và truyền giáo ở những vùng đất xa xôi. Vào ngày 15/2/1900, Joseph Marty Bằng xin gia nhập Chủng viện Hội Thừa sai Paris (Missions Etrangères de Paris – MEP). Tại đây, thày Marty lần lượt trải qua các giai đoạn tu học và lãnh nhận các thánh chức:
- Ngày 22/02/1902: Chịu phép cắt tóc.
- Ngày 07/03/1903: Lãnh các chức nhỏ.
- Ngày 27/02/1904: Lãnh chức phụ Phó tế.
- Ngày 28/5/1904: Lãnh chức Phó tế.
- Ngày 26/6/1904: Chính thức được thụ phong linh mục.
Ngay sau khi thụ phong, cha Marty được Bề trên sai đi truyền giáo tại Địa phận Tây Đàng Ngoài. Ngài lên tàu rời nước Pháp ngày 26/4/1905 và bắt đầu hành trình sứ mạng của đời mình.
2. Những năm tháng đầu tiên trên đất Việt (1905-1908)
Đặt chân đến vùng đất truyền giáo, cố Marty Bằng ở tại nhà chung Kẻ Sở. Tại đây, ngài chuyên tâm dành thời gian học tiếng Việt và tập làm quen với phong tục tập quán Việt Nam. Cuối năm 1905, ngài được Đức cha sai lên vùng Hòa Bình phụ giúp cố Albert de Cooman Phụng, chính xứ Mường Cắt (thời gian này cố Phụng kiêm nhiệm xứ Mường Riệc vì cố Brisson Nhân về Pháp nghỉ phép). Cố Marty Bằng phục vụ tại khu vực này cho đến đầu năm 1908.
3. Mục vụ tại Gò Cời (Tân Hội) (1908-1919)
Năm 1908, cố Marty Bằng được Bề trên thuyên chuyển đến mục vụ tại Gò Cời (Tân Hội) để kế nhiệm cố Villebonnet Quí. Tại đây, ngài tiếp nối phương pháp truyền giáo của vị tiền nhiệm trước kia là cố Le Page Loan: trực tiếp đến định cư tại những bản làng có triển vọng về truyền giáo. Với lòng nhiệt thành tông đồ, cố Marty Bằng đã làm cho nhiều người ở Tân Hội, Gạo, Ao Giàng xin gia nhập Giáo Hội Công giáo và sống đạo đức. Riêng tại Tân Hội, cố Marty Bằng đã xây dựng một ngôi nhà thờ rộng rãi, khang trang và kiên cố cùng một ngôi nhà xứ tươm tất.
4. Dấn thân vì anh chị em người Mường (1911-1932)
Ngay từ những ngày đầu ở Tân Hội, cố Marty Bằng đã ấp ủ hoài bão truyền giáo cho anh chị em người Mường tại tỉnh Hòa Bình. Và ngài đã lên đường đến gặp gỡ họ. Do đó, năm 1911, một nhóm người Mường ở làng Đồn Vận đến gặp ngài để xin theo đạo. Các bản như Ngầm- Ao Kềnh, Ngành, Đá Bạc cũng đến xin học lớp giáo lý dự tòng. Tuy nhiên, công cuộc truyền giáo vô cùng gian nan do tính cách thờ ơ của người dân địa phương và đặc biệt là khí hậu rừng thiêng nước độc khiến hai thầy giảng qua đời vì sốt rét rừng. Điều này cũng cho chúng ta thấy, dù cố Marty Bằng đã gặt hái được những thành quả đầu tiên, nhưng đã gặp những khó khăn thử thách.
Bên cạnh thử thách về việc sự hy sinh của những người trợ tá mình vì bệnh tật. Cố Marty Bằng còn gặp khó khăn khi phải đối diện với các “Thổ lang”. Đây là những người đứng đầu các bản, họ nhiều đất đai. Và dưới góc độ nào đó, họ thực sự là những lãnh chúa phong kiến đầy quyền lực. Do đó, khi thấy các thừa sai đến truyền giáo, những Thổ lang này đã không có thiện cảm với các ngài. Vì vậy, sau khi các dự tòng ở Đồn Vận lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, một Thổ lang đã bắt giam và đóng gông bốn người, trong đó một người đã chết. Đứng trước tình thế đó, cố Marty Bằng đã không ngần ngại đi đến tỉnh và huyện để đòi lại công lý cho bản thân và giáo dân của mình.
Đến năm 1919, ngài bàn giao công đoàn Tân Hội cho cha Hiếu để chuyển đến giáo điểm Đồn Vận. Tại vùng đất mới, ngài đã không ngừng truyền giáo. Hoa trái thiêng liêng là số người dự tòng ngày một đông. Những anh chị em ở Mường Sắng, cùng với các bản Dầm Dáy, Thông Rếch và Bằng Gà (nằm sâu trong dãy Trường Sơn) đến xin học giáo lý. Tuy nhiên, do sự trả thù của các Thổ lang nên không phải ai cũng can đảm xin gia nhập đạo.
Sau một thời gian truyền giáo tại Việt Nam, ngài thấy sức khỏe suy giảm. Do đó, từ tháng 6/1925-10/1926, cố Marty Bằng trở về Pháp để dưỡng bệnh. Khi trở lại Việt Nam, ngài tiếp tục mục vụ tại Đồn Vận và gặt hái nhiều thành quả. Năm 1928, ngài còn gánh tạm thêm những trách nhiệm của cố Hébrard Huệ.
5. Mở rộng truyền giáo lên phía Bắc và Đồng Gội (1932-1940)
Bất chấp những biến cố bi thương như nạn đói, dịch đậu mùa và sự qua đời của các thầy giảng trong giai đoạn 1930-1931, số lượng anh chị em người Mường xin gia nhập đạo vẫn tăng, lan rộng từ phía tây sang phía bắc của Đồn Vận.
Năm 1932, cha Giraud được sai đến phụ giúp cố Marty Bằng. Sau lễ Phục sinh năm ấy, Đức cha Gendreau đến thăm và ban Bí tích Rửa tội và Thêm Sức cho 80 giáo dân đầu tiên ở Đồng Gội. Nhận thấy công việc ở Đồn Vận đã ổn định, cố Marty Bằng giao Đồn Vận và các họ xung quanh cho cha Giraud rồi tiến lên phía Tây Bắc, đến với Đồng Gội. Tại đây ngài xây một nhà thờ nhỏ và nhà xứ.
Với tinh thần hăng của một nhà truyền giáo, ngài tiếp tục đi lên vùng giáp ranh với Địa phận Hưng Hóa, lập các giáo điểm nhỏ ở Hồi, ở Rục. Lúc này, dù sức khỏe đã giảm sút, mỗi năm vài lần ngài vẫn lặn lội đi thăm các giáo điểm thuộc quyền của mình để nâng đỡ đức tin cho các tín hữu. Đồng thời, cố Marty Bằng còn mở một ngôi trường nhỏ và đích thân dạy văn hóa cho trẻ em người Mường.
6. Những năm tháng cuối đời (1940-1941)
Cố Marty Bằng là người hăng say miệt mài với sứ vụ truyền giáo. Tuy nhiên, cuộc sống của cố giữa chốn rừng thiêng nước độc đã làm hao mòn sức khỏe. Đến tháng 6/1940, ngài kiệt sức và bắt đầu phải điều trị tại Bệnh viện Saint Paul.
Đến khoảng cuối năm 1941, tình trạng sức khỏe của cố Marty Bằng trở nên nguy kịch. Bất chấp đường rừng núi hiểm trở, một cha đã đích thân lái xe từ Hà Nội lên Hòa Bình đón ngài. Và dù thể trạng đã kiệt sức, cố Marty Bằng vẫn giữ được sự minh mẫn. Ngài đã tự thu xếp để hai người cáng mình bằng võng, vượt qua 5km đường rừng ra đến quốc lộ rồi mới lên xe ôtôaHa.
Ngay khi nhập viện tại Hà Nội, chỉ sau mũi tiêm quinine (thuốc trị sốt rét) đầu tiên, ngài đã mất thính lực hoàn toàn. Sau đó, ngài lãnh nhận các bí tích cuối cùng với lòng đạo đức sốt sắng trước khi chìm vào tình trạng hôn mê. Và cố Marty Bằng trút hơi thở cuối cùng vào ngày 26/12/1941 (ngay sau Lễ Giáng Sinh), khép lại 62 năm tại thế, trong đó có 36 năm dâng hiến trọn vẹn cho sứ vụ gieo hạt giống đức tin giữa vùng đồi núi phía Tây của Giáo phận Hà Nội.
Nhìn lại cuộc đời của cố Jean-Joseph Marty Bằng, chúng ta thấy hiện lên chân dung của một vị tông đồ nhiệt thành và quên mình cho sứ mạng truyền giáo. Không ngại gian khổ, không sợ quyền uy, ngài đã băng đèo lội suối để mang ánh sáng của Chúa Ki-tô đến với những bản làng người Mường xa xôi nhất. Dù thời gian có lùi xa, nhưng tên tuổi và tinh thần hy sinh của vị thừa sai xứ Mường – cố Marty Bằng sẽ luôn là tâm gương sáng ngời cho mỗi chúng ta.
(Biên soạn dựa theo hồ sơ các Thừa sai của MEP số 2818)
(Nguồn: tonggiaophanhanoi.org)


TIN LIÊN QUAN: