Thánh đức đơn sơ và sự giản đơn

Cây cối, chim muông, đá tảng….và loài người đều sinh ra từ bàn tay Thiên Chúa. Thật đẹp biết bao khi Thiên Chúa đặt để nơi tâm hồn con người sự đơn sơ, trong trắng. Để con người luôn sống tình con thơ mà phó thác mọi sự trong tay Thiên Chúa và luôn sống cùng Thiên Chúa. Nhưng từ khi Ađam và Evà phạm tội kiêu ngạo nghe lời dụ dỗ của con rắn, từ giờ phút con người xa Chúa, con người dần đánh mất ý thức về sự hiện diện của sự đơn sơ trong sáng nơi mình. Và từ đó, phần lớn con người không còn nhìn thấy Thiên Chúa và không còn nhận ra Thiên Chúa. Khi Chúa Giê-su đến và sống giữa con người, Ngài cũng đã chỉ cho con người một con đường để nhìn thấy Thiên Chúa. Đó là con đường của các mối phúc “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa”(Mt 5,8). Và khi có tâm hồn trong sạch chúng ta sẽ biểu lộ sự mộc mạc, thực hiện tính đơn sơ, loại bỏ sự ích kỷ và hạn chế lòng ham muốn.

Đơn sơ, mộc mạc, giản dị, và trong sáng là những đức tính mà thời đại chúng ta cần hơn bao giờ hết. Không có những đức tính này con người sẽ dần đánh mất đi sự đơn giản và tự làm cho đời sống mình trở nên phức tạp và nặng nề.

Trong bộ phim “Anh mặt trời, Chị mặt trăng” có một cảnh nói về bản chất con người bị lãng quên. Cảnh đó được đặt trong một bối cảnh tương phản: Phanxicô và một nhóm môn đệ ăn mặc tồi tàn đang đứng giữa điện Vatican tráng lệ. Phanxicô khi đến xin Đức Giáo Hoàng chúc lành và phê chuẩn bản luật, đã hân hoan nói về vẻ đẹp của thiên nhiên, sự đơn sơ và niềm phó thác của các loài thụ tạo vô tri, và quà tặng vô giá của ân sủng và tình yêu Thiên Chúa. Đức Giáo Hoàng đã đứng lên, cảm động nói: “Phanxicô – này con rất yêu dấu, vì chúng ta bị ám ảnh quá mức bởi tội nguyên tổ, nên chúng ta thường quên đi bản chất ngây thơ của mình.” Thật đúng là như vậy, khi con người lớn lên và có ý thức, con người thường quên đi bản chất hồn nhiên đơn sơ, trong sáng của mình. Con người đâu nhận ra những bản chất này là thuốc giải tuyệt diệu mà Thiên Chúa dùng để hoán cải nền văn hóa tiền bạc, loại trừ, xa hoa, và điên dại.

Mỗi người hãy tìm lại bản chất đơn sơ của mình, vì đây là điều cần thiết để cứu con người khỏi xa đọa. Giữa tương quan con người “hãy sống đơn sơ để người khác có thể được sống” (Gandhi). Nếu chúng ta tìm cách áp dụng đời sống bình dị vào cuộc sống và phân biệt đâu là điều muốn, đâu là điều cần, thì chúng ta sẽ không phung phí của cải vào những chuyện vô ích. Ví dụ con người hôm nay hãy đơn giản hơn trong cách ăn mặc, tiết kiệm hơn trong việc mua sắm. Thực tế cho thấy, một số chị em phụ nữ mất rất nhiều thời gian trong việc lựa chọn cho thời trang của mình, họ phải mất hàng giờ đứng trước tủ quần áo để xem bộ nào phù hợp với mình trong ngày hôm ấy. Cũng là phụ nữ nhưng đối với chị em Clara thanh bần, vì “tu phục của chị em phải luôn phản ánh đức nghèo khó đơn sơ” (Hc đ 117). Nên khi đứng trước tủ quần áo, thật đơn giản để chọn lựa, hoặc bộ màu nâu này hay bộ màu nâu kia mà thôi. Áp dụng đời sống đơn sơ vào thực tế cuộc sống không phải là chuyện dễ dàng, nhưng về lâu về dài lối sống ấy sẽ mang lại cho chúng ta niềm vui hạnh phúc và tự do. Trong đời sống chiêm niệm, tôi vẫn luôn cầu nguyện và ước mong một ngày thật gần nào đó “thế giới sẽ thức tỉnh để thoát khỏi chủ nghĩa vật chất, chủ nghĩa tiêu thụ” và sẽ sống một cuộc sống đơn giản, một cuộc sống quân bình lành mạnh.

Những ai khao khát hạnh phúc và bình an, trước tiên hãy chọn cho mình một cuộc sống giản dị, thanh đạm, rồi sự bình an và hạnh phúc sẽ đến sau đó. Còn đối với những ai có niềm tin vào Thiên Chúa thì phải thực hiện thêm một điều nữa đó là, cầu nguyện để đơn giản hóa đời sống của mình. Vậy mỗi người hãy đơn giản hơn trong suy nghĩ, đừng quá phức tạp và đòi hỏi bản thân phải biết hết mọi sự. Như sách Châm Ngôn đã nói: “Suy nghĩ lo toan là việc của con người, còn câu trả lời là do Đức Chúa.”(Cn 16,1). Đừng sợ sống đơn sơ trong sáng giữa một thời đại có hàng ngàn cách để lừa đảo, tranh chấp hạ bệ nhau. Vì thánh Phanxicô Asisi đã kinh nghiệm được sức mạnh của tính đơn sơ, ngài nói: “Thánh đức đơn sơ tinh tuyền đánh bại mọi kiểu khôn ngoan thế gian và mọi kiểu khôn ngoan xác thịt”. Thật vậy, đức đơn sơ sống sự khôn ngoan của Thiên Chúa: “Đức khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên trước là thanh khiết sau là hiếu hòa, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt, không thiên vị cũng chẳng giả hình” (Gc 3,17). Hiện nay có rất nhiều người đang cố công ra sức tìm tòi, học hỏi để thể hiện bản thân là một người khôn ngoan. Nhưng đức khôn ngoan lại kêu gọi con người trở về với đơn sơ. Đặc biệt đức khôn ngoan kêu gọi những nhà cầm quyền: “Hỡi những nhà cầm quyền thế giới, hãy yêu chuộng sự công bình, hãy có những cảm nghĩ trung thực về Chúa và tìm kiếm Người với tâm hồn đơn sơ. Vì những ai không thách thức Người mới được Người cho gặp, những ai vẫn một niềm tin tưởng Người sẽ cho họ được nhìn thấy Người.” (Kn 1,1-2), mỗi người chúng ta hãy sống “thật đơn giản, thật đơn giản” vì “sống đơn giản mới là sống thật” (Henry Davit Thoerau).

Khi một người sống thật nơi tâm hồn họ luôn có sự đơn sơ trong sáng và có một đời sống giản dị thanh đạm. Mỗi khi gặp họ chúng ta thấy nơi họ có một sự thanh thoát nhẹ nhàng. Họ luôn yêu mến cuộc sống và sống gần gũi với thiên nhiên. Họ luôn tôn trọng mọi người và mọi sự vật xung quanh. Trong thế kỷ XXI bạn đã gặp được những con người này chưa. Tôi thì tôi gặp rồi, đó là vị thánh nghèo miền Assisi, ngài vẫn sống mãi từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 21, cuộc sống của ngài là t lời mời gọi con người trở về với bản chất của mình là đơn giản, hiền lành. Ngài là nguồn cảm hứng dạy tôi biết chiêm ngưỡng thiên nhiên và tôn trọng mọi thụ tạo, Ngài giúp tôi biết trở về với sự đơn sơ, trong sáng đã có nơi tâm hồn mình. Như thánh Phan-xi-cô đã cảm nhận, tôi cũng cảm nhận được “mọi thụ tạo trên trái đất đều có những cảm xúc, mọi vật đều khao khát được yêu, cũng đau khổ và chết như chúng ta”. Vậy chúng ta hãy bắt chước thánh Phan-xi-cô hãy sống đơn sơ để tất cả mọi người đều cùng sống và thiên nhiên cũng được sống. Với sự chọn lựa sống đơn sơ, giản dị sẽ đồng hành với chúng ta và dẫn chúng ta đến với một tương quan gần gũi với thiên nhiên: Khi chúng ta yêu thương và chăm sóc thiên nhiên, mọi cây cối, hoa lá… những cảnh vật này sẽ đem lại cho chúng ta một niềm vui thanh thoát. Bởi vì, đời sống chúng ta được bao quanh bởi những điều kỳ diệu đến từ thiên nhiên. Như thánh Phan-xi-cô đã chiêm ngưỡng những điều kỳ diệu này với một con mắt hết sức trong sáng. Trong cuốn sách “Cuộc đời ca hát tình yêu” có đoạn kể lại rằng “Thánh Phan-xi-cô nói với anh Lê-ô: này anh Lê-ô vào mỗi buổi sáng khi mặt trời mọc lên và phân phát ánh sáng cho chúng ta, anh có thấy chim chóc thì ca hát và trái tim con người thì nhảy nhót trong lồng ngực cách hăng say thế nào không? Anh có thấy là các tảng đá và dòng nước đều cười không? Rồi nước vừa chạy vừa nói bi bô, nước biến thành suối, rồi thành dòng sông vừa chảy xuôi về biển vừa ca hát, trên đường đi, nước rửa và tẩy mọi sự. Rồi khi chúng mình khát, nước làm mát lòng dạ chúng mình, thật thân thể con người thích ứng với trái đất và linh hồn thích ứng với Thiên Chúa cách hoàn hảo làm sao”. Đối với tâm hồn yêu thích sự đơn sơ nhỏ bé họ luôn ngạc nhiên trước mọi vẻ đẹp, chỉ một cánh bướm thoáng qua hay mùi hoa thoang thoảng cũng đủ làm cho tâm hồn họ dâng trào niềm vui. Mỗi khi chúng ta có quá nhiều bận bịu lo toan, chúng ta hãy dừng lại để ngắm xem một bông hoa, dù là một bông hoa dại bé ti mọc bên vệ đường. Chúng ta hãy dừng lại để cảm nhận làn gió nhẹ vuốt ve má chúng ta, hãy để trái tim chúng ta được gặp những tia nắng bình minh vì Thiên Chúa vẫn chúc lành cho chúng ta mỗi khi bình minh bừng dậy. Hãy dừng lại để nghe những tiếng động êm ái, vì êm lắm tiếng lá xào xạc và thú vị lắm tiếng gió vi vu. Chúng ta hãy chiêm ngắm mọi thụ tạo “vì mọi thụ tạo dù có nhỏ bé và tầm thường đến mấy cũng biểu dương lòng tốt lành của Thiên Chúa”(GCGS). Thiên Chúa Đấng là Cha tốt lành của chúng ta cũng không ngừng thi ân giáng phúc xuống cho con người qua các thụ tạo:

            “Thăm trái đất Ngài tuôn mưa móc

            Cho ngập tràn phú túc giàu sang

            Suối trời trữ nước mênh mang

            Dọn đất sẵn sàng đón lúa trổ bông

            Tưới từng luống san từng mô đất

            Khiến dầm mưa cho hạt nảy mầm

            Bốn mùa Chúa đổ hồng ân

            Ngài gieo màu mỡ ngập tràn lối đi

            Vùng hoang địa xanh rì ngọn cỏ

            Cảnh núi đồi hớn hở tươi xinh

            Chiên cừu phủ trắng đồng xanh

            Lúa vàng dưới lũng rung rinh dạt dào

            Câu hò tiếng hát trổi cao”(Tv 64.10-14)

Mỗi lần đọc Thánh vịnh này tâm hồn tôi luôn dâng trào một niềm vui, vui vì sự chăm sóc yêu thương của Thiên Chúa. Như Phan-xi-cô đã suy tư và tự hỏi “người ta có đui mù hay mất cảm giác không mà lại không nhìn thấy phép lạ xảy đến hàng ngày: như những chùm nho thật là mầu nhiệm lớn lao: ta ăn nó ta được giải khát, ta ép nó và ngâm nó là ta có rượu”. Và còn rất nhiều điều kỳ diệu khác vẫn diễn ra trong cuộc sống. Những điều kỳ diệu này xảy đến cho ta thấy Thiên Chúa rất gần chúng ta, Ngài ở ngay bên cạnh, ngay trong lòng và Ngài đang tự tay chăm sóc chúng ta. Nhưng đáng tiếc thay, khi những thực tế chua cay xảy đến trong cuộc đời, khiến chúng ta dễ lãng quên những ơn lành Chúa ban đến từ thiên nhiên. Với đời sống giản dị, chúng ta hãy dành thời gian để chăm sóc môi trường chung quanh chúng ta, vì như Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI đã nhận xét: “Kinh nghiệm cho ta thấy, sự vô tâm đối với môi trường chung quanh luôn có hại cho sự sống chung của con người. Điều đó luôn chứng tỏ rằng sự bình an đối với thiên nhiên và bình an giữa con người luôn luôn có một quan hệ không thể phân ly”. Vậy “mỗi người chúng ta cần sống đơn sơ, khiêm hạ, hèn mọn để có thể trở nên anh chị em của mọi tạo vật, phải đặt mình giữa mọi sinh vật, chứ không đặt mình lên trên chúng. Thái độ thống trị khai thác phải thay thế bằng thái độ chia sẻ, bảo vệ kính trọng và huynh đệ với mọi tạo vật.”(G Ng Phước).

Trải dài qua các thời đại, có rất nhiều mẫu gương đã sống và trở về với bản chất đích thực của mình sự đơn sơ trong sáng. Đặc biệt là mẫu gương của các vị thánh. Hai nhân đức này như hai đôi cánh nâng các ngài lên cùng Thiên Chúa. Và sách Gương Chúa Giê-su cũng dạy rằng: “Con người phải nhờ hai cánh để cất bổng mình vượt lên trên thế sự: hai cánh này là đức đơn sơ và lòng trong sạch, đơn sơ trong ý chí và trong sạch trong tâm tình.”

Tôi xin kể một chút về đời sống và mẫu gương của hai vị thánh đã hoàn thiện bản tính của mình nhờ sống sự đơn sơ trong ý chí và trong sạch trong tâm tình. Đó là Thánh Phan-xi-cô và thánh Clara, hai ngài là một đôi bạn trong sáng như thiên thần, hai ngài đã sống cùng một lý tưởng là đi theo Đức Ki-tô nghèo khó chịu đóng đinh và đã phục sinh, và hai ngài luôn có cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn và có cùng một ý hướng như nhau”. (Pl 2,2). Đời sống của thánh Phan-xi-cô và thánh Clara được diễn tả ra bằng các nhân đức “đơn sơ, khiêm nhường, nghèo khó, bác ái, huynh đệ, vâng phục, vui tươi, và biết ngưỡng mộ”. Các nhân đức này được gọi là đoàn sủng Phan Sinh.

Đối với thánh Phan-xi-cô, nhờ có một tâm hồn đơn sơ trong sáng, ngài chân thành vui sống bình an với mọi loài thụ tạo, ngài say mê chiêm ngưỡng Thiên Chúa nơi thiên nhiên, vì đối với Ngài mọi vạn vật đều mang dấu vết của Đấng Tạo Hóa và chúng mang lại cho ngài niềm vui hạnh phúc vì thấy Chúa vẫn đang hiện diện nơi vạn vật xinh đẹp: với niềm hân hoan Ngài đã ngợi khen Chúa qua bài ca “Anh mặt trời, Chị mặt trăng”. Ngài gần gũi với mọi thụ tạo và Ngài gọi tất cả là anh là chị là mẹ. Ngài không chỉ đối xử lịch thiệp với mọi tạo vật mà còn đối với tất cả mọi người. Với tâm hồn bình an ngài dạy anh em ngài: Khi gặp mọi người thì hãy chào “xin Chúa ban bình an cho anh cho chị”. Và cũng chính ngài tự tay chăm sóc người cùi, những người này đối với ngài đều là hình ảnh của Chúa Ki-tô đang chịu đau khổ. Với trái tim rộng mở đầy lòng bao dung, ngài ước ao là khí cụ bình an của Chúa, trái tim Ngài đau đớn khi nhìn thấy cảnh chiến tranh và đau khổ nơi con người, điều gì ngài có thể làm ngài đã làm hết sức mình để xây dựng tình yêu thương nơi con người, và ngài đã đến gặp quốc vương Hồi Giáo, một điều mà thời đó không ai dám làm. Trong đời sống cầu nguyện, tâm hồn ngài không ngừng nghĩ tưởng đến Chúa. Đặc biệt là khi cầu nguyện trong thiên nhiên. Khi chiêm ngắm một con sâu, với tư tưởng hồn nhiên trong sáng ngài đã cầu nguyện: “Lạy Chúa khi đàn sâu nghĩ tưởng đến Chúa, chúng liền hóa kiếp thành loài bướm bay”. Vậy chúng ta hãy bắt chước thánh Phan-xi-cô hãy khao khát hòa bình, hãy làm một điều gì đó để xây dựng tình yêu thương nơi con người. Hãy sống tương quan hòa hợp với mọi loài thụ tạo, vì nhờ chiêm ngưỡng vẻ xinh đẹp của mọi tạo vật mà thánh Phan-xi-cô nhận ra “sự khôn ngoan quyền năng và lòng nhân lành của Thiên Chúa” (1Cl 80). Để có cái nhìn trong sáng như Phan-xi-cô, chúng ta hãy gìn giữ con tim, thanh luyện tâm hồn để trở nên đơn sơ thánh thiện và để có nhiều niền vui trong đời sống: Nhờ có sự đơn sơ, nơi Phan-xi-cô có rất nhiều niềm vui, đặc biệt là niềm vì có Chúa ở cùng. Đối với Ngài vui không phải là không có khó khăn đau khổ. Nhưng Ngài biết xem nhẹ mọi khó khăn vì lòng mến Chúa. Như niềm vui của các tông đồ khi bị bắt bớ: “Các tông đồ hân hoan vui mừng vì thấy mình xứng đáng chịu đau khổ vì Đức Ki-tô”. Thường người ta vui khi có bạn thân bên cạnh, buồn khi ở một mình, niềm vui này thật mau qua. Chúng ta hãy tìm niềm vui như các thánh tông đồ và thánh Phan-xi-cô, niềm vui lớn nhất của các ngài là sống cho Chúa và có Chúa hiện diện trong tâm hồn. Thánh Phan-xi-cô cũng dạy anh em ngài rằng: “Phúc thay người tu sĩ chỉ tìm niềm vui và hoan lạc trong những công việc rất thánh thiện của Chúa, và nhờ đó họ vui mừng và hân hoan dẫn người ta đến với tình yêu Thiên Chúa”.(HN 20). Ở đâu có nghèo khó và vui tươi ở đấy không có tham lam và keo kiệt” (HN 27).

Để có niềm vui, hạnh phúc đích thực chúng ta hãy tập cho mình có một đời sống đơn sơ  trong sáng và đừng sợ người khác sẽ khinh thường mình. Vì như thánh Phan-xi-cô đời sống đơn sơ của ngài đã trở nên mẫu gương của lòng tôn trọng và sự lịch thiệp. Như lời ca của anh Toma Celano là người đầu tiên viết lại cuộc đời của thánh Phan-xi-cô: “Ngài đẹp biết bao, lộng lẫy biết chừng nào, khi sống một đời trong trắng, giảng dạy bằng lời lẽ đơn sơ, mang trong lòng một trái tim thanh tịnh, yêu mến Thiên Chúa hết lòng, bác ái với tha nhân, tuân phục triệt để, quy phục trong bình an và trong sáng như Thiên Thần”.

Còn đối với thánh Clara “Ngài là môn đệ trung tín nhất của thánh Phan-xi-cô” cả trong tinh thần và đời sống. Khi đọc các câu truyện và bút tích của ngài chúng ta có thể thấy thánh Clara là một vị thánh yêu thích sự đơn sơ giản dị và sự nghèo khó. Là một tiểu thư trong gia đình quý tộc thánh Clara đã tự nguyện bỏ mọi sự và chọn con đường “đi theo Đức Ki-tô nghèo khó và chịu đóng đinh”. Từ trong sâu thẳm tâm hồn ngài chỉ có Đức Ki-tô mới mang lại niềm vui đích thực. Cũng như thánh Phan-xi-cô, ngài đã sống một đời sống nghèo khó và giản dị. Nếp sống khó nghèo mà vui mừng này được diễn tả nhiều trong các thư và luật dòng. Tất cả những niềm vui của Ngài là niềm vui ở trong Chúa, là niềm vui thanh thoát tỏa ra từ tâm hồn đã giũ bỏ mọi sự phù vân của thế gian.

Đối với thánh Clara ơn gọi của ngài là một ơn cao trọng, nên ngài gìn giữ ơn gọi của mình một cách xác tín. Ngài sống ơn gọi Chúa ban một cách thanh thoát nhẹ nhàng. Trong thư II gửi Agnes, ngài đã diễn tả niềm vui sống ơn gọi nơi “Điều gì Bà nắm giữ hãy nắm giữ cho chắc, điều gì đã làm xin tiếp tục làm đừng bao giờ buông trôi. Nhưng nhanh nhẹn rảo bước nhẹ nhàng tiến lên, sao cho bước chân cũng không hề vương bụi đường. Hãy tiến lên vững tin, vui vẻ và nhanh nhẹn trên nẻo đường hạnh phúc đích thật”(2T gửi Agnes 11-13). Và khi chọn kết hôn cùng Đức Ki-tô, Ngài cảm nhận chỉ nơi Đức Giê-su nghèo khó, Ngài mới có sự bình an và được Đức Giê-su gìn giữ trong sáng cả hồn lẫn xác. Trong thư 2 gửi Agnes Ngài viết rằng: “Đức Giê-su sẽ luôn gìn giữ lòng tinh khiết của Bà được tinh tuyền và toàn vẹn, khi yêu mến Người Bà sẽ luôn trinh khiết, khi chạn đến Người Bà sẽ them trong sáng, khi ưng thuận Người Bà sẽ là trinh nữ.”

Đời sống của Thánh Clara giúp chúng ta hiểu rằng, đi theo Đức Ki-tô và sống sự đơn giản nghèo khó là chìa khóa mở cửa tâm hồn được tự do thanh thoát. Dù ở trong bốn bức tường của Đan Viện Đa-mi-a-nô, ngài không cảm thấy bị gò bó, nơi đó Ngài đã sống một đời sống khắc khổ mà vui, sống nghèo mà hạnh phúc. Niềm vui và hạnh phúc nơi ngài là dấu chỉ sự hiện diện của Chúa.

Qua đời sống của thánh Clara và những ai từng gặp gỡ chị em thanh bần, mọi người sẽ thay đổi cái nhìn về những Đan sĩ tu kín là: Đan sĩ ẩn kín luôn khắc khổ và thường có vẻ mặt buồn rầu. Đối với chị em Clara thanh bần, cũng như Mẹ thánh của mình đời sống của chị em có những niềm vui nhẹ nhàng đầy kiên nhẫn và âm thầm với sự đồng hành hằng ngày của Chúa.

Đời sống của một Đan sĩ Clara là một đời sống trở về với sự đơn sơ trong sáng. Chỉ khao khát tìm kiếm Chúa và khao khát sống cho Người mình yêu. Mỗi chị em Đan sĩ ai cũng đang phải chịu “một cuộc tra tấn ngọt ngào khi phải yêu trong xa cách, phải chiếm hữu trong đức tin và chờ đợi trong da diết”. Việc tìm kiếm người mình yêu mang dáng dấp một cuộc trốn tìm nhẹ nhàng. Trong sự thinh lặng chị em tìm lại được con người thật của mình. Và tìm được hai đôi cánh để nâng bổng mình vượt trên thế sự: đó là sống đức đơn sơ trong ý chí và trong sạch trong tâm tình”. Khi ở trong khung cảnh của bốn bức tường điều cần thiết và ưu tiên là chị em phải biết sống thinh lặng, yêu thanh vắng và chuyên cần cầu nguyện, những phương thế này giúp chị em mở cửa lòng mình và sẵn sàng để Thiên Chúa đột nhập.

Khi còn sống thánh Clara vì lo sợ cho tương lai con cái mình sẽ xa rời đức nghèo khó, đơn sơ và khiêm nhường, trong di chúc ngài đã nhắn nhủ con cái mình: “Trong Đức Ki-tô tôi khuyến khích tất cả chị em hiện tại và tương lai hãy chuyên cần bước theo con đường của thánh đức đơn sơ, khiêm nhường và nghèo khó” (Dc Cl 56). Thật vậy, trong mọi sinh hoạt của chị em Clara, đức đơn sơ và nghèo khó như hai người chị đi hai bên để dẫn dắt em mình đi đúng đường. “Tu phục và y phục của chị em luôn phản ánh đức nghèo khó và đơn sơ” (Hc Đ117). Trong tinh thần làm việc chị em cũng được mời gọi thể hiện đức đơn sơ nghèo khó “Chị em hãy tìm niềm vui trong bất cứ công việc nào dù khiêm tốn nặng nhọc”(Hc Đ115) đặc biệt đức đơn sơ khiêm nhường được biểu lộ rõ nét trong tình chị em: “Là chị em chúng ta phải tôn trọng và quý mến lẫn nhau. Được tinh thần bác ái thúc đẩy chúng ta tự nguyện phục vụ và vâng lời lẫn nhau, chúng ta kiên quyết đừng tỏ ra buồn bã nhưng vui luôn trong Chúa”(Hc Đ92).

Khi chọn cho mình lối sống nghèo giúp chị em luôn sống tâm tình đơn sơ như trẻ thơ, đó là luôn phó thác và tin tưởng vào sự chăm sóc của Thiên Chúa quan phòng lầ người Cha tốt lành. Và Đức Giáo Hoàng Giêgôriô đã khích lệ chị em khi ban đặc ân sống nghèo: “Đấng nuôi dưỡng chim trời và may mặc cho các bông huệ ngoài đồng, cũng sẽ không để chị em thiếu ăn thiếu mặc cho đến khi chính Người đến với chị em và phục vụ chị em trong cuộc sống vĩnh cửu”. Khi hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa quan phòng, chị em được dẫn vào mối tương quan gần gũi với Thiên Chúa , sự gần gũi đó giúp chị em có nhiều niềm vui, niềm vui này được lan tỏa một cách êm đềm trong đan viện, chính vì vậy đan viện luôn có sức sống mới mỗi ngày.

Vì thế tuy sống trong bốn bức tường, nhờ có tương quan gần gũi với Thiên Chúa chị em cũng luôn gần gũi với mọi người qua đời sống cầu nguyện chuyển cầu, và sống gần gũi với cả thiên nhiên, chị em gặp gỡ Thiên Chúa trong mọi sự. Với tâm hồn luôn chiêm niệm Thánh Clara luôn “khuyến khích chị em ngợi khen Thiên Chúa khi nhìn thấy cây cối hoa lá xinh tươi, cũng như khi thấy con người và các thụ tạo khác”. Có thể nói ở trong bốn bức tường này các nữ đan sĩ Clara đang vui sống yêu thương, đang vác thập giá của mình mỗi ngày khi đón nhận đau khổ thử thách xảy đến trong đời sống, cùng ca ngợi Thiên Chúa bằng lời kinh trầm lắng, và cùng chìm sâu vào trong đời sống cầu nguyện trong cô tịch được ẩn khuất nơi đan phòng và cuối cùng là kết thúc cuộc sống lữ hành và khách lạ ở trần thế này để trở về quê hương đích thực.

Cũng giống như các vị thánh mỗi người chúng ta đều có thể nếm hưởng hạnh phúc thật ngay nơi trần thế này, chỉ cần chúng ta bỏ bớt những thứ nặng nề ràng buộc mình, trở về với cuộc sống giản dị, thanh đạm, đơn sơ trong sáng nguyên thủy mà Thiên Chúa đặt để trong tâm mỗi người.

Nguồn: tonggiaophanhanoi.org