Lm. Tô-ma A-qui-nô Nguyễn Xuân Thuỷ
Cố Hoàng, tên Pháp là Élisée Décréaux, sinh 16 tháng 8 năm 1869 tại làng Le Creusot, Giáo phận Autun, vùng Bourgogne, miền Trung nước Pháp. Mồ côi cha mẹ từ bé, ngài phải trải qua một tuổi thơ vất vả nhưng vẫn quyết học hành để theo đuổi ơn gọi muốn trở thành linh mục. Sau khi tốt nghiệp chương trình trung học ở Tiểu chủng viện ngài vào Đại Chủng viện giáo phận học năm 1888. Học được một năm thì vào tháng 9 năm 1889, ngài xin bề trên cho chuyển sang học ở Chủng viện Hội Thừa Sai Paris với ước muốn được đi truyền giáo ở những vùng đất xa xôi. Những năm sau đó ngài lần lượt chịu các chức nhỏ rồi chịu chức phó tế ngày 12 tháng 3 năm 1892 và chức linh mục ngày 3 tháng 7 năm1892. Vào cuối buổi lễ Truyền chức, Bề trên đọc bài sai gửi ngài đi truyền giáo ở Địa phận Tây Đàng Ngoài (Hà Nội) và ngài đã mau mắn chuẩn bị để lên đường tới miền truyền giáo của mình vào tháng 9 năm đó.
Tới Hà Nội vào tháng 11 năm 1892, Ngài nhận tên Việt là Hoàng và được Đức cha Đông gửi về Kẻ Sở để học tiếng. Sau năm tháng học ở đây, ngài đã có thể nói tiếng Việt thành thạo lưu loát, nên Đức cha gửi Cố về Sơn Miêng một năm rưỡi để giúp Cố Long (Pilon) đang làm quản hạt này. Đầu năm 1895, để chuẩn bị cho việc chia Địa phận, Đức cha lập thêm một Tiểu chủng viện ở Phúc Nhạc và cử cố Hoàng về đó để dậy học. Năm 1900, Cố Hoàng được bổ nhiệm làm giáo sư Tín Lý ở Đại chủng viện Kẻ Sở. Vì các môn học bắt đầu được giảng bằng tiếng Việt nên cố đã phải soạn thảo và xuất bản cuốn sách giáo khoa môn Tín Lý bằng tiếng Việt cho các thầy học.
Năm 1909, Cố Hoàng được giao phụ trách một miền truyền giáo rộng lớn gồm bảy giáo xứ mà ngài đặt trụ sở chính ở Chằm Hạ – nơi cố Huê (Hébrard) mới xây một ngôi nhà thờ kiểu Nam bằng gỗ khang trang lộng lẫy. Cố Hoàng vừa tới đã bắt tay xây dựng nhà xứ mới. Năm 1911, ngài xây cho họ Du Mi ngôi nhà thờ kiểu gothique xinh xắn và mở lớp dạy Đạo cho tân tòng ở làng Chìa Xá gần họ Nguộn. Năm 1917, ngài mừng Ngân khánh linh Mục tại xứ Chằm Hạ. Mặc dù bị bệnh thấp khớp, Cố vừa kiêm nhiệm quản hạt Chằm Hạ, vừa dạy học ở Tiểu Chủng viện Hoàng Nguyên cách đó 4 km.
Năm 1926, Đức cha Đông quyết định xây dựng Tràng Tập (Probatorium) ở Tòa Giám mục Hà Nội, và năm 1927 Đức cha gọi Cố Hoàng về vừa để chuẩn bị mở lớp tràng tập, vừa để giúp cố Ân ở Nhà Thờ Lớn. Tràng Tập là nơi các chú học hết tiểu học ở quê, được tập trung huấn luyện làm quen đời sống chủng viện trước khi vào Tiểu Chủng viện Hoàng Nguyên. Khóa thứ nhất của tràng tập được mở năm 1928 lúc công việc xây dựng còn đang dở dang. Khóa thứ II mở năm 1929 chính là lớp của Đức cha Phao-lô Lê Đắc Trọng gồm có 35 chú, sau này chỉ còn lại 7 người chịu chức linh mục. Cố Hoàng giữ trọng trách coi Tràng Tập cho đến khi đóng cửa năm 1948.
Những biến động lịch sử của Thế chiến thứ hai như quân Nhật tới Đông Dương năm 1940, Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945 sau đó tuyên bố đầu hàng phe Đồng Minh, cuộc nổi dậy cướp chính quyền của Việt Minh và tuyên bố Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945, phong trào bài Pháp dâng cao… những xáo trộn khiến nhiều lần nhà trường phải đóng cửa, các cố Tây bị công kích, chống đối và thậm chí bị tấn công vũ lực. Đứng trước những biến động của thời cuộc, Cố Hoàng vẫn giữ được sự bình tĩnh và ôn hòa, phó thác cho Chúa. Vào năm 1947, khi tình hình tạm yên, nhà trường mở cửa lại, Cố đã xin Đức cha Thịnh cho nghỉ hưu, nhưng Đức cha vẫn tiếp tục cử ngài làm giám đốc cho đến năm 1948 thì các chú được chuyển về Hoàng Nguyên để lấy chỗ cho các thầy ở Chủng viện Xuân Bích học.
Từ tháng 8 năm 1948, sức khỏe cố Hoàng cũng xuống dốc nhiều, ngài phải đến viện Saint-Paul điều trị nhiều lần. Trên giường bệnh ngài vẫn luôn mỉm cười và bình tĩnh nói về sự ra đi của mình về với Chúa. Ngài qua đời một cách thanh thản vào đêm mùng 4 tháng 2 năm 1950, thọ 81 tuổi.
(Dựa theo Hồ sơ các Thừa sai của MEP số 2018)
Trích “Nội San Nhà Chung” – Số 34


TIN LIÊN QUAN: