Cố Charles Bertaud Thanh (1857-1904): Mẫu gương về lòng sùng kính Đức Mẹ và tinh thần truyền giáo

(Dựa theo Hồ sơ các thừa sai của MEP số 1495)

Năm 1904, Địa phận Tây Đàng Ngoài (Hà Nội) chịu một tổn thất lớn với những mất mát do những cuộc ra đi của ba cha thừa sai: Đầu tiên là Cố Khang (Guinand) vào ngày 18 tháng 2, tiếp đến là Cố Nghĩa (Letourmy) ngày 23 tháng 5 và cuối cùng là Cố Thanh (Bertaud) ngày 7 tháng 10 để lại bao hụt hẫng đau buồn cho cộng đoàn địa phận.

Cố Thanh tên thật là Charles Bertaud, sinh ngày 14 tháng 6 năm 1857 tại làng Bourgneuf-en-Retz, thuộc Giáo phận Nantes trong vùng Pays de la Loire ở miền tây nước Pháp. Xuất thân trong một gia đình đạo đức truyền thống, ngài có ông trẻ là linh mục ở Nantes mà lúc nào ngài cũng để ảnh trong phòng. Cha ngài là một giáo viên gương mẫu nghiêm túc, góa vợ từ trẻ, ông đã nhờ người em gái đạo đức của mình giúp chăm sóc cho ba người con còn bé. Thừa hưởng sự giáo dục đạo đức đó mà hai người con trai là Stanislas và Charles đã trở thành linh mục, còn người em gái tu tại gia để có thể ở lại chăm sóc cha và mẹ nuôi.

Từ lúc còn nhỏ, khi tham gia lễ sinh ở nhà thờ, Charles rất say mê công việc giúp lễ, các cung giọng lễ nghi và những cử điệu của phụng vụ, điều mà người ta thấy rõ ảnh hưởng tới ngài khi cử hành sốt sắng lễ nghi sau này. Khi học ở Tiểu chủng viện Ancenis, Charles được đánh động bởi ơn gọi đi truyền giáo sau một lần tiếp xúc với các nhà truyền giáo từ Algerie đến thăm chủng viện. Khi lên Nantes học Đại Chủng viện, Charles đã gặp Brisson (Cố Nhàn sau này) – hai người có một tình bạn thân thiết và cả hai sau này cùng được gửi sang truyền giáo ở Địa phận Tây Đàng Ngoài (Hà Nội).

Tháng 6 năm 1880, sau khi tốt nghiệp chủng viện, thầy Bertaud cùng với thầy Brisson đã đi Paris để ghi tên vào Hội Thừa Sai Paris. Các thầy được truyền chức linh mục ngày 29 tháng 6 năm đó. Hôm sau ngày chịu chức, khi cha Bertaud dâng lễ mở tay, ông cố ngài đã xin được giúp lễ và người anh trai linh mục – cha Stanislas, làm phụ lễ cho ngài. Mọi ước mong của gia đình như được Chúa thương chấp nhận. Nhưng niềm vui lại sớm nhường chỗ cho một cuộc biệt ly khi mọi người thân phải tiễn vị tân linh mục lên đường đến xứ truyền giáo xa xôi, mà thường lúc đó với suy nghĩ không bao giờ còn gặp lại ở trần gian này.

Tháng 10 năm 1881, tầu đưa các đấng cập bến Đà Nẵng, hai cha Bertaud và Brisson đã đi đường bộ tới Kẻ Sở để gặp Đức cha, các ngài ở lại đó học tiếng Việt một thời gian. Năm 1882, các ngài nhận được bài sai của Đức cha: Cha Brisson Nhàn được cử đến Lạc Thổ (Hoà Bình) còn cha Bertaud Thanh trước hết về Hà Nội giúp cố Mỹ (Landais) làm mục vụ cho người Pháp thời gian ngắn, rồi từ năm 1884-1889 về Nam Định làm tuyên úy cho trại lính quân y và cuối cùng năm 1889 làm cha xứ Ngọc Lũ, một xứ đạo mới được Đức cha Lộc (Ramond) thành lập trước khi được bổ nhiệm làm giám mục Hưng Hóa. Người ta thấy Cố Thanh nổi bật về lòng đạo đức sùng kính Đức Mẹ và ngài tin là Đức Mẹ luôn gìn giữ ngài. Ngài kể lúc mới về làm cha xứ Ngọc Lũ, một xứ ở bên bờ sông Châu Giang luôn bị giặc cướp tấn công, ban đêm vì sợ ngài không thể ngủ được, tay luôn cầm tràng hạt, ngài bỗng nghe tiếng nói: “Đừng sợ, Ta luôn ở đây”, ngài tin chắc đó là tiếng Đức Mẹ. Vì vậy mặc dù khó khăn, ngài giúp giáo dân tự vệ để giữ cuộc sống bình an, và đã khởi công xây nhà thờ Ngọc Lũ.

Ngài ở Ngọc Lũ chín năm, với một xứ đạo hoàn toàn tân tòng, nhiều sức ép đe doạ và cả những vu khống, nhiều người sợ hãi bỏ đạo. Nhà truyền giáo đã nhiệt tình nâng đỡ tinh thần cộng đoàn, vực lên lòng can đảm của tín hữu vững vàng trong Đức Tin. Nhà thờ Ngọc Lũ được dâng hiến cho Trái Tim Chúa, đó là cả nỗ lực của Cố Thanh nhờ sự giúp đỡ của gia đình, thân nhân bên Pháp cùng sự đồng tâm đóng góp của cộng đoàn tân tòng này.

Năm 1898, Cố Thanh được sai trở lại Nam Định, vì lúc đó nơi này có đông người Pháp cư ngụ và làm việc, nên ngài phụ trách mục vụ cho họ, đồng thời cố cũng giúp cha xứ đẩy nhanh tiến độ xây dựng nhà thờ đã được khởi công trước đó mấy năm mà công việc chưa được bao nhiêu. Chưa đầy hai năm ngôi nhà thờ mới đã mọc lên đồ sộ với ngọn tháp duyên dáng trở thành biểu tượng của thành phố mới này. Ngài giúp trang bị cho nhà thờ với nhiều công phu cầu kỳ: bàn thờ chạm trổ, sơn son thiếp vàng, tượng Đức Mẹ rất đẹp và đồng hồ carillon lắp trên tháp vào năm 1903, đánh điệp khúc bài Ave Maria mỗi giờ.

Cố Thanh luôn quảng đại nhiệt tình giúp đỡ mọi người không mệt mỏi, kể cả những người lương dân hay những người sống bên các địa phận dòng Đa Minh bên kia sông Hồng. Đặc biệt ngài trở thành luật sư không công cho mọi người, giúp cho họ các thủ tục pháp lý mà những người dân thường không hiểu biết, vì vậy mọi người đều quý mến ngài.

Lòng hăng hái nhiệt thành phục vụ xứ truyền giáo đã làm ngài kiệt sức, tháng 4 năm 1904, bề trên gửi ngài sang Hồng Kông dưỡng bệnh và sau đó được gửi về Pháp để điều trị. Giữa lúc cộng đoàn địa phận đang mong đợi ngài khoẻ lại để trở về thì được tin: đang khi nghỉ tại xứ của cha anh ở Saint Étienne Corcoué, ngày Chúa nhật đầu tháng Mân Côi ngài cố gắng ra dâng lễ vì lòng sùng kính Đức Mẹ. Sau Thánh lễ, khi trở về nhà xứ, ngài đã ngã gục và không thể trở dậy được nữa. Trên giường bệnh, ngài lúc tỉnh lúc mê, ngài kêu tên cực trọng, đồng thời vẫn luôn nhắc đến đoàn chiên của mình ở Nam Định, nhắc tới ý định muốn mua cho nhà thờ Nam Định một bộ chuông như muốn nói trái tim mình dành hết cho xứ truyền giáo ấy. Ngài trút hơi thở cuối cùng vào đúng ngày Thứ Sáu đầu tháng Mân côi, ngày 7 tháng 10 năm 1904. Ngài được an táng tại nghĩa trang Varades. Cộng đoàn xứ truyền giáo Hà Nội luôn ghi nhớ công ơn ngài.

Lm. Tô-ma Nguyễn Xuân Thủy