Dấu chân người mục tử trên Địa phận Tây Đàng Ngoài – Cố Petrus Coste Tế (1869-1954)

Ban viết sử Tổng Giáo phận Hà Nội

Vào đầu thế kỷ XX, công cuộc truyền giáo tại Địa phận Tây Đàng Ngoài bước vào giai đoạn phát triển, Giáo xứ Lỗ Xá (tỉnh Nam Định) nổi lên như một vườn ươm đức tin đầy sức sống. Tìm về cội nguồn của sự phát triển ấy, lịch sử Tổng Giáo phận Hà Nội ghi dấu ấn một vị mục tử nhân lành, người đã dành tuổi thanh xuân và tâm huyết cho các tín hữu nơi đây. Đó chính là thừa sai Petrus Marie Philippe Coste (cố Tế). Hành trình hơn nửa thế kỷ dấn thân của ngài trên đất Việt đã để lại bài học về lòng nhiệt thành, sự hy sinh và quảng đại.

1. Giai đoạn chuẩn bị cho sứ vụ truyền giáo

Cố Petrus Marie Philippe Coste chào đời ngày 06/01/1869 trong một gia đình đạo đức và khá giả tại Giáo xứ Thánh Marie, Giáo phận Lyon, miền Đông Nam nước Pháp. Vì được nuôi dưỡng trong bầu khí đạo hạnh nên ngay từ thuở thiếu thời, cậu bé Coste đã sớm ươm mầm ơn gọi hiến dâng. Sau khi kết thúc bậc tiểu học với các thày dòng Marist và trung học tại Học viện Thánh Michel, chàng thanh niên Coste tiếp tục trải qua hai năm tại Đại Chủng viện Xuân Bích (Saint-Sulpice), ngoại ô Paris. Tại đây, ngày 03/6/1887, thày Coste lãnh chức cắt tóc[1] (tonsure), đánh dấu bước đầu vào đời sống giáo sĩ.

Tiếng gọi truyền giáo ngày càng thôi thúc nên ngày 21/6/1888, thày Coste xin gia nhập Chủng viện Hội Thừa sai Paris (MEP) và chính thức nhập học vào tháng 9 cùng năm. Sau quá trình đào tạo, thầy Coste lãnh tác vụ phó tế vào tháng 7/1892 và thụ phong linh mục ngày 24/9/1892. Đến ngày 26/10/1892, vị tân linh mục giã từ quê hương, lên đường thực thi sứ vụ tại Địa phận Tông tòa Tây Đàng Ngoài xa xôi.

2. Những năm tháng đầu tiên và sứ vụ tại Lỗ Xá

Đặt chân đến xứ truyền giáo cuối năm 1892, cố Coste Tế bắt đầu học tiếng Việt tại Kẻ Sở – thủ phủ của Địa phận Tây Đàng Ngoài thời bấy giờ. Một thời gian sau, ngài được bổ nhiệm làm Giáo sư tại Tiểu Chủng viện Hoàng Nguyên. Trong sứ vụ giáo dục, cố Coste Tế có những quan điểm, tư tưởng khá độc đáo, thậm chí mang tính cách mạng so với thời ấy, điều này đã khiến ngài gặp một số khó khăn.

Khoảng năm 1900, ngài được Đức cha Gendreau Đông tin tưởng trao phó trọng trách chính xứ kiêm quản hạt Lỗ Xá. Chính tại mảnh đất này, tài năng, lòng nhiệt thành và đạo đức của cố Coste Tế đã sinh hoa trái. Trong gần 30 năm tại giáo hạt Lỗ Xá, ngài đã không ngừng gieo vãi hạt giống Tin Mừng. Báo cáo năm 1911 ghi nhận sự gia tăng mạnh mẽ số lượng tân tòng nhờ lời rao giảng và đời sống chứng tá của cố Coste Tế. Đặc biệt, tại giáo họ Đồng Chuối Hạ với hơn 2.000 tín hữu bị tổn thất nặng nề trong cuộc bách hại đạo cuối thế kỷ XIX đã được ngài đồng hành và kiên trì vực dậy, nên cộng đoàn này đã phục hồi lòng đạo. Năm 1908, các tín hữu nơi đây dự tính xây dựng một nhà thờ mới, thay thế ngôi nhà thờ cũ đã trở nên quá chật hẹp.

Trong thời gian làm quản hạt, cố Coste Tế rong ruổi trên lưng ngựa hoặc lênh đênh trên con thuyền để thăm mục vụ sáu giáo xứ trong địa hạt mình phụ trách. Cố Coste Tế đã trở nên thân thuộc với người dân nơi đây. Với quan điểm “thay vì ngồi nhà tiếp khách, tôi sẽ lên đường thăm giáo dân”, cho nên các xứ họ tại địa hạt Lỗ Xã đều có dấu ấn của ngài ở một phương diện nào đó. Cố Coste Tế không chỉ xây dựng nhà thờ Lỗ Xá, Kẻ Tâng (An Phú ngày nay) mà còn xây dựng những cầu nối tình người. Sự công bằng, lòng bác ái và thái độ tôn trọng của cố Coste Tế đối với người lương dân đã giúp ngài có uy tín với họ cũng như là điều cần thiết để cố Coste Tế có thể bảo vệ quyền lợi cho các tín hữu.

3. Những nốt trầm cuối đời và hồi hương

Sau thời gian về Pháp dưỡng bệnh (1927-1929), năm 1930, ngài trở lại Việt Nam và được bổ nhiệm làm chính xứ kiêm quản hạt Nam Định thay cố Pédebidau Hóa (được Bề trên giao sứ vụ quản lý tài chính của Địa phận Hà Nội). Còn tại Giáo xứ Lỗ Xá, cha Hiếu – một linh mục Việt Nam kế nhiệm ngài. Tuy nhiên, vốn quen với không gian rộng lớn và sự tự do hành động ở giáo xứ thôn quê, ngài khó thích nghi được với nhịp sống của một giáo xứ đô thị. Tháng 9/1932, ngài xin từ nhiệm, lui về một họ đạo nhỏ thuộc địa hạt Lỗ Xá bên dòng sông Đáy, nơi giáp ranh ba tỉnh Nam Định-Ninh Bình-Hà Nam. Tại đây, ngài xây dựng một ngôi nhà nguyện nhỏ kính Thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su, đồng thời ngài dành thời gian đến thăm hỏi, phụ giúp các vị thừa sai cao niên như cố Cantaloube Căn, cố Souvignet Thi. Khi cố Thi qua đời, ngài thay cố làm cha xứ Phủ Lý.

Giai đoạn 1943-1945 là thời kỳ đầy biến động với sự chiếm đóng của quân Nhật và sự phát triển ngày càng lớn mạnh của Mặt trận Việt Minh. Trước những lời đe dọa có nguy cơ làm tổn hại đến tính mạng, tháng 8/1945, ngài buộc phải rời Phủ Lý về Hà Nội. Tại Hà Nội, cố Coste Tế đảm nhận vai trò tuyên úy cho Dòng Đức Bà Kinh sĩ thánh Augustin và Cộng đoàn Mến Thánh Giá nhánh cải tổ. Do tuổi già, bệnh tật (đục thủy tinh thể) cùng sự ra đi của Đức cha Chaize Thịnh (1949) và thời cuộc thay đổi đã khiến những năm tháng cuối đời của ngài nhuốm màu u buồn. Đôi khi, cố Coste Tế cảm thấy lạc lõng ngay trên mảnh đất mình đã gắn bó cả cuộc đời.

Cuối năm 1950, do những biến động hết sức phức tạp của xã hội tại Việt Nam, Bề trên Địa phận quyết định đưa các thừa sai cao tuổi rời đi để tránh những bất chắc không mong muốn có thể xảy ra. Cố Coste Tế và một vài thừa sai khác vào Sài Gòn rồi về Pháp. Ngài cập bến Marseille ngày 04/4/1951, sau đó về hưu dưỡng tại Voreppe-một thị trấn ở phía Đông Nam nước Pháp. Ngày 06/02/1954, vị thừa sai lão thành đã trút hơi thở cuối cùng, hưởng thọ 85 tuổi, khép lại hành trình 51 năm tận hiến cho sứ vụ tông đồ.

4. Di sản của một tấm lòng hào sảng

Nhắc đến cố Petrus Coste Tế, người đương thời không chỉ nhớ đến những ngôi thánh đường ngài xây, mà còn khắc ghi chân dung một con người đầy nhân bản và thánh thiện.

Trước tiên, ngài là một vị mục tử hăng say không mệt mỏi, luôn hoạt động để mang lại niềm vui và lợi ích cho tha nhân và Giáo Hội.

Thứ hai, cố Tế là một tấm lòng quảng đại bao dung, cho đi mà không bao giờ tính toán hay ghi chép sổ sách – sự hào sảng đến mức đôi khi ngài chịu thiệt thòi vì bị lợi dụng, nhưng chưa bao giờ vì thế mà khép lại trái tim mình.

Thứ ba, ngài có một tâm hồn vui tươi, hồn nhiên, mang trong mình sự tinh nghịch của trẻ thơ, luôn sẵn sàng hòa mình vào những trò chơi dân gian, xóa nhoà khoảng cách giữa cha cố người Pháp và giáo dân Việt Nam.

Và cuối cùng, ngài có một cốt cách lịch thiệp, tinh tế của nền giáo dục Pháp, luôn sợ làm phiền lòng người khác và đau đáu nỗi buồn khi nhân phẩm không được tôn trọng.

Nhìn lại hành trình 85 năm dương thế, trong đó có hơn nửa thế kỷ gắn bó mật thiết với Địa phận Tây Đàng Ngoài, cuộc đời cố Coste Tế là một bản trường ca đẹp về sứ vụ truyền giáo. Ngài không chỉ để lại những dấu ấn rõ nét qua các ngôi thánh đường tại Lỗ Xá, Kẻ Tâng hay ngôi nhà nguyện nhỏ bên sông Đáy, mà còn khắc sâu trong tâm khảm các tín hữu hình ảnh một vị mục tử nhân lành, hào sảng và đầy tình thương. Cố Coste Tế thực sự là một tấm gương sáng ngời. Ngài đã dành trọn cuộc đời để gieo vãi và chăm sóc hạt giống Đức tin trổ sinh hoa trái nơi vùng đất Tây Đàng Ngoài.

 (Biên soạn dựa trên Hồ sơ các Thừa sai của MEP số 2033)


[1] Trước Công Đồng Vaticano II, chức cắt tóc diễn tả việc một người bước vào đời sống giáo sĩ. Sau chức cắt tóc, các thày sẽ lãnh nhận lần lượt chức giữ cửa (porter), chức đọc sách (lector), chức trừ quỷ (exorcist), chức giúp lễ (acolyte), phó tế và linh mục.